Đo hạnh phúc của dân
Chuyên gia Quy hoạch và Thiết kế đô thị
Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV lần đầu đề cập cụ thể đến "chỉ số hạnh phúc".
Tăng trưởng kinh tế là hành trình không ngừng nghỉ nhằm tạo dựng một xã hội, nơi người dân cảm thấy đáng sống và muốn gắn bó. Là người nghiên cứu và tư vấn về phát triển đô thị, tôi thấm điều này. Khi trăn trở với các tiêu chí như chất lượng sống, mức độ đáng sống hay sức cạnh tranh của các thành phố, tôi nhận ra nhiều thước đo cuối cùng đều hội tụ về một điểm: hạnh phúc của con người.
"Hạnh phúc" không chỉ được nhắc đến, mà còn trở thành từ khóa kết trong chuỗi mục tiêu phát triển: hòa bình - độc lập - dân chủ - giàu mạnh - phồn vinh - văn minh - hạnh phúc.
Đó là một chuyển dịch tư duy quan trọng: phát triển hài hòa.
Phát triển không chỉ là tăng trưởng kinh tế, mà là làm cho đời sống người dân tốt hơn. Tinh thần "lấy con người làm trung tâm" vì thế được thể hiện rõ nét hơn. Hạnh phúc và sự hài lòng của nhân dân không còn bị xem là kết quả phụ, mà được đặt ngang hàng với các mục tiêu cốt lõi.
Nhưng khi hạnh phúc trở thành mục tiêu, nó cần được đo lường, theo dõi và gắn với trách nhiệm giải trình, để thực sự trở thành "thước đo" chất lượng phát triển.
Nhiều quốc gia đã đi trước với các cách tiếp cận khác nhau khi đo hạnh phúc. Bhutan xây dựng chỉ số Gross National Happiness (GNH) với nhiều tầng dữ liệu định lượng và định tính, thậm chí hiến định trong hiến pháp, như một chuẩn mực phát triển đặt hạnh phúc lên hàng đầu.
Trong các thước đo quốc tế, World Happiness Report (WHR) là chỉ số phổ biến nhất. WHR chủ yếu khảo sát cảm nhận chủ quan để nắm bắt tâm trạng xã hội, được sử dụng rộng rãi nhờ dữ liệu toàn cầu đồng bộ và vị thế gắn với Liên Hợp Quốc.
Happy Planet Index (HPI) đi theo hướng phản biện hơn, với công thức lấy hạnh phúc cảm nhận nhân tuổi thọ, rồi chia cho mức phát thải trên đầu người (gần đây có cả phiên bản nhân thêm hiệu chỉnh bất bình đẳng giàu - nghèo).
Cách tiếp cận này nhấn mạnh "hiệu quả hạnh phúc trên mỗi đơn vị tài nguyên", nhưng cách đo mức độ phát thải còn nhiều tranh luận, khiến HPI khó áp dụng chính thức và kém phổ biến trong chính sách.
Khác với hai chỉ số trên, OECD Well-being Framework không gộp hạnh phúc thành một con số duy nhất, mà để kết quả là một khung đa trụ cột song song như một dashboard chính sách. Mỗi lĩnh vực đời sống - từ thu nhập, việc làm, sức khỏe đến môi trường và giáo dục - có chỉ báo riêng, phù hợp cho nội bộ chính phủ trong thiết kế và đánh giá chính sách hơn là xếp hạng đối sánh.
Mỗi cách đo đều có lý lẽ riêng và những giới hạn nhất định. Một đánh giá hạnh phúc đáng tin cậy cần kết hợp dữ liệu định lượng và định tính. Nếu chỉ dựa vào các chỉ số khách quan như thu nhập, tuổi thọ hay phúc lợi, sẽ thiếu lớp cảm nhận vô hình nhưng quan trọng về đời sống tinh thần, cộng đồng và văn hóa - xã hội. Ngược lại, nếu chỉ dựa vào cảm nhận chủ quan, sai lệch là điều khó tránh.
Sống nhiều năm ở Nhật Bản và Singapore - hai quốc gia có GDP bình quân đầu người rất cao - tôi từng chứng kiến truyền thông xôn xao khi người dân bị đánh giá "ngày càng kém hạnh phúc". Đơn cử như số liệu WHR 2023-2025 cho thấy Nhật Bản tụt hạng từ 47 xuống 55, Singapore giảm từ 25 xuống 34, mất vị trí dẫn đầu châu Á vào tay Đài Loan. Trong khi đó, Việt Nam, với thu nhập bình quân thấp hơn nhiều lần, lại thăng hạng từ 65 lên 54 rồi 46, nhờ văn hóa cộng đồng, sự gắn kết xã hội và sức bền tinh thần.
Không mô hình nào hoàn hảo. Nhưng các quốc gia đi trước đã vượt qua một ngưỡng then chốt: dám chọn cách đo, dám chuẩn hóa và dám để chính sách được soi chiếu bởi những con số gắn trực tiếp với đời sống con người.
Trở lại Việt Nam, câu hỏi không còn là có cần đo hay không, mà là đo thế nào cho phù hợp.
Những thử nghiệm trong nước mang tính gợi mở. Yên Bái tiên phong đưa "chỉ số hạnh phúc" vào chiến lược giai đoạn 2020-2025, dựa trên khảo sát mức độ hài lòng với dịch vụ công, môi trường, y tế, giáo dục, kết hợp PAR Index và SIPAS. Năm 2024, tỉnh này đạt 66,52%, tăng nhẹ so với 65,62% năm trước, được xếp vào mức "khá hạnh phúc". Hà Nội cũng hướng tới cải thiện chất lượng sống và chỉ số hạnh phúc song hành với chỉ số phát triển con người, kết hợp tăng trưởng kinh tế, đô thị hóa và môi trường.
Nhưng đây mới là các thử nghiệm địa phương, chưa thể coi là khuôn mẫu quốc gia. Một phương pháp đo phù hợp với Việt Nam cần thêm thời gian nghiên cứu thấu đáo. Bài học cốt lõi không nằm ở việc sao chép mô hình nào, mà ở cách đặt câu hỏi đúng với tâm lý xã hội và tập quán địa phương.
Hạnh phúc không thể chỉ là cảm xúc nhất thời hay cảm nhận tách rời khỏi điều kiện sống tối thiểu. Thiếu nền tảng vật chất cơ bản, nói về hạnh phúc dễ trở thành sự huyễn hoặc, tự an ủi. Nhưng nếu chỉ chăm chăm vào các chỉ số kinh tế mà bỏ qua cảm nhận xã hội, chính sách cũng khó chạm tới những lo âu âm thầm của cộng đồng.
Cách tiếp cận bài bản là nhìn hạnh phúc như một cấu trúc nhiều tầng, gồm nền tảng điều kiện sống, cảm nhận chủ quan và tầng cộng đồng.
Ở tầng nền tảng, hạnh phúc gắn với những điều kiện tối thiểu để con người sống an toàn và ổn định. Các chỉ báo có thể gồm thu nhập và mức sống cơ bản, khả năng tiếp cận việc làm bền vững, nhà ở phù hợp, chất lượng môi trường sống, cùng khả năng tiếp cận y tế, giáo dục và các dịch vụ công thiết yếu. Đây là các yếu tố khách quan, đo được bằng số liệu thống kê, phản ánh "mặt sàn" của hạnh phúc và là điều kiện cần cho các tầng cao hơn.
Ở tầng cảm nhận chủ quan, trọng tâm không nằm ở cách người dân cảm nhận cuộc sống. Các tiêu chí tập trung vào mức độ hài lòng hiện tại, cảm nhận công bằng xã hội, mức độ tin cậy vào thể chế, cảm giác an toàn, cùng khả năng tự do lựa chọn và kiểm soát các quyết định quan trọng. Dữ liệu tầng này chủ yếu thu thập qua điều tra xã hội học, phản ánh trực tiếp tâm trạng xã hội và những lo âu, kỳ vọng mà chỉ số kinh tế thuần túy khó nắm bắt.
Ở tầng cộng đồng, hạnh phúc vượt khỏi phạm vi cá nhân để trở thành trải nghiệm chung của xã hội. Tầng này có thể đo qua mức độ gắn kết xã hội, sự tham gia cộng đồng từ chòm xóm tới đô thị và tỉnh thành, mức độ tin cậy giữa con người với con người, sức sống của các thiết chế văn hóa - xã hội, cùng niềm tin tập thể vào tương lai chung. Đây là tầng phản ánh vốn xã hội và sức bền tinh thần quốc gia, nơi bản sắc văn hóa, tinh thần tương trợ và ý thức cùng nhau vượt qua khó khăn được tích lũy theo thời gian. Những sự kiện như A50, A80 hay các chiến thắng thể thao gần đây cho thấy tầng hạnh phúc cộng đồng có thể được khơi dậy rất mạnh.
Không cần vội ép tất cả các tầng thành con số duy nhất. Ở giai đoạn đầu, việc báo cáo minh bạch từng tầng để nhận diện mảng mạnh, mảng yếu có giá trị cho quản trị và chính sách hơn nhiều một con số tổng xếp hạng. Khi năng lực dữ liệu và quản trị đủ chín, các chỉ số tổng hợp có thể được xây dựng dần, với trọng số phản ánh đúng ưu tiên phát triển từng thời kỳ.
Chính phủ nên giao hoặc lập một cơ quan chuyên trách liên bộ hay viện nghiên cứu để đo lường hạnh phúc hàng năm, gắn kết với ngân sách và chính sách, nhằm biến cam kết thành hành động. Thực hiện ở cấp tỉnh, ta sẽ có thêm một chỉ số phục vụ cải thiện quản trị và cạnh tranh bên cạnh PCI. Còn chỉ số tổng hợp sẽ phản ánh bức tranh chung của cả đất nước.
Phát triển chỉ thực sự có ý nghĩa khi người dân cảm nhận cuộc sống ngày một tốt hơn - không cần lời lẽ lớn lao.
Tô Kiên