Điều kiện, trình tự thủ tục cấp phép nuôi trồng thủy sản

TTXVN/Báo Tin tức và Dân tộc 26/01/2026 20:55

Chính phủ ban hành Nghị định số 41/2026/NĐ-CP ngày 25/1/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thủy sản.

Chú thích ảnh
Nuôi trồng thủy sản tại thị xã Sông Cầu cũ (nay thuộc tỉnh Đắk Lắk). Ảnh tư liệu: TTXVN phát

Nghị định gồm 9 chương, 57 điều quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hànhLuật Thủy sảnsố 18/2017/QH14 ngày 21/11/2017 đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số31/2024/QH15, Luật số43/2024/QH15, Luật số146/2025/QH15về: quỹ bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản; nuôi trồng thủy sản; khai thác thủy sản; quản lý tàu cá, tàu công vụ; kiểm ngư; mua, bán, sơ chế, chế biến, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản, sản phẩm thủy sản; quản lý nhà nước về thủy sản...

Điều kiện cơ sở nuôi trồng thủy sản

Nghị định quy định cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 Luật Thủy sản như sau:
Nơi chứa chất thải phải riêng biệt với nơi chứa, nơi xử lý thủy sản chết và tách biệt với khu vực nuôi, không làm ảnh hưởng đến môi trường.

Trường hợp cơ sở nuôi trồng thủy sản có khu chứa trang thiết bị, dụng cụ, nguyên vật liệu phải bảo đảm yêu cầu bảo quản của nhà sản xuất, nhà cung cấp; cơ sở nuôi trồng thủy sản có khu sinh hoạt, vệ sinh phải bảo đảm nước thải, chất thải sinh hoạt không làm ảnh hưởng đến khu vực nuôi.

Đối với nuôi trồng thủy sản trong ao (đầm/hầm), bể: Bờ ao (đầm/hầm), bể làm bằng vật liệu không gây ô nhiễm môi trường, không gây độc hại cho thủy sản nuôi, không rò rỉ nước. Trường hợp cơ sở nuôi trồng thủy sản thâm canh, bán thâm canh phải có hệ thống xử lý nước cấp, nước thải riêng biệt; nơi chứa bùn thải phù hợp.

Đối với nuôi trồng thủy sản bằng lồng bè, đăng quầng (sau đây được gọi là nuôi lồng bè): Khung lồng, phao, lưới, đăng quầng, giá thể phải làm bằng vật liệu không gây ô nhiễm môi trường, không gây độc hại cho thủy sản nuôi và không để thủy sản nuôi sổng thoát ra môi trường; có thiết bị cảnh báo cho hoạt động giao thông thủy.

Trang thiết bị sử dụng trong nuôi trồng thủy sản phải làm bằng vật liệu không gây ô nhiễm môi trường, không gây độc hại đối với thủy sản nuôi.

Hồ sơ, trình tự cấp, thu hồi Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện nuôi trồng thủy sản theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân

Nghị định quy định cơ quan quản lý nhà nước về thủy sản cấp tỉnh cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện nuôi trồng thủy sản khi có yêu cầu của tổ chức, cá nhân.

Hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận bao gồm:

Đơn đề nghị theoMẫu số 20.NT Phụ lục Iban hành kèm theo Nghị định này;

Bản thuyết minh cơ sở vật chất, kỹ thuật của cơ sở nuôi theoMẫu số 21.NT Phụ lục Iban hành kèm theo Nghị định này;

Sơ đồ vị trí đặt lồng bè/Sơ đồ khu vực nuôi.

Về trình tự cấp Giấy chứng nhận: Cơ sở có nhu cầu cấp Giấy chứng nhận gửi hồ sơ đến cơ quan được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao tiếp nhận hồ sơ thủ tục hành chính.

Trong thời hạn 6 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, cơ quan có thẩm quyền thực hiện kiểm tra thực tế tại cơ sở theoMẫu số 22.NT Phụ lục Iban hành kèm theo Nghị định này.

Trường hợp kết quả kiểm tra đạt yêu cầu, trong thời hạn 1 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận theoMẫu số 23.NT Phụ lục Iban hành kèm theo Nghị định này.

Trường hợp kết quả kiểm tra không đạt yêu cầu, trong thời hạn tối đa 30 ngày cơ sở phải thực hiện khắc phục và gửi báo cáo kết quả khắc phục đến cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận. Nếu thấy cần thiết, cơ quan có thẩm quyền tổ chức kiểm tra nội dung đã khắc phục. Trường hợp cơ sở đáp ứng điều kiện, trong thời hạn 1 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc việc kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận theoMẫu số 23.NT Phụ lục Iban hành kèm theo Nghị định này. Trường hợp không cấp phải trả lời bằng văn bản, nêu rõ lý do.

Giấy chứng nhận có thời hạn 24 tháng.

Phương án, dự án nuôi trồng thủy sản trên biển

Nghị định quy định tổ chức, cá nhân đề nghị giao khu vực biển để nuôi trồng thủy sản lập dự án nuôi trồng thủy sản trên biển, trừ trường hợp cá nhân thuộc đối tượng quy định tại khoản 3 Điều 44 Luật Thủy sản thì lập phương án nuôi trồng thủy sản trên biển.

Phương án hoặc dự án nuôi trồng thủy sản trên biển phải đáp ứng các tiêu chí sau:

Đáp ứng quy định về điều kiện theo quy định tại Điều 38 Luật Thủy sản và Điều 19 Nghị định này;

Sự phù hợp về quy mô sản xuất, loài thủy sản nuôi, trồng và công nghệ nuôi, trồng;

Có giải pháp phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố môi trường và dịch bệnh trong quá trình nuôi trồng thủy sản;

Tính khả thi về kinh tế, kỹ thuật, bảo đảm hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường và phát triển bền vững.

Đối tượng được miễn tiền sử dụng khu vực biển để nuôi trồng thủy sản

Ngoài ra, Nghị định cũng quy định các trường hợp được miễn tiền sử dụng khu vực biển theo quy định tại Luật Thủy sản, cụ thể:

Trường hợp được miễn tiền sử dụng khu vực biển theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 44 Luật Thủy sản được xác định như sau: Đối tượng là cá nhân Việt Nam thường trú trên địa bàn cấp xã đang hoạt động khai thác thủy sản sử dụng tàu cá có chiều dài lớn nhất dưới 12 mét chuyển đổi nghề sang nuôi trồng thủy sản. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cá nhân Việt Nam thường trú căn cứ Giấy đăng ký tàu cá, Giấy phép khai thác thủy sản đối với tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 6 mét đến dưới 12 mét; đối với tàu cá có chiều dài lớn nhất dưới 6 mét, căn cứ tài liệu thống kê, theo dõi tàu cá do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý theo quy định của pháp luật về khai thác thủy sản để xem xét, quyết định.

Trường hợp được miễn tiền sử dụng khu vực biển theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 44 Luật Thủy sản được xác định như sau: Đối tượng là cá nhân Việt Nam thường trú trên địa bàn cấp xã, trực tiếp tham gia vào hoạt động nuôi trồng thủy sản trong thời gian tối thiểu 24 tháng liên tục tính đến thời điểm đề nghị giao khu vực biển để nuôi trồng thủy sản và có thu nhập từ hoạt động nuôi trồng thủy sản chiếm trên 50% tổng thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân.Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cá nhân Việt Nam thường trú trên địa bàn tổ chức xác minh theo quy định của pháp luật để xem xét, quyết định.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày ký ban hành (25/1/2026). Riêng quy định tại điểm c khoản 4 Điều 26 Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố Sơ đồ nghề cá trên biển.

TTXVN/Báo Tin tức và Dân tộc