Tuổi già, ví mỏng
Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI
Với mức lương hưu trung bình của đa số người Việt, đây là con số ngoài tầm với.
Câu chuyện nhỏ ấy phản ánh bài toán lớn. Việt Nam đang già đi rất nhanh. Chỉ trong hơn hai thập kỷ, đất nước sẽ chuyển từ giai đoạn "cơ cấu dân số vàng" sang "xã hội già", một hành trình mà Pháp mất 115 năm, Australia mất 73 năm mới hoàn thành. Đến 2038, cứ 5 người Việt sẽ có một người trên 60 tuổi, tương đương hơn 21 triệu người cao tuổi. Và hệ thống an sinh của chúng ta thì chưa kịp chuẩn bị.
Khi nói về già hóa dân số, phản xạ tự nhiên của nhiều người là nghĩ đến chi phí. Ai trả lương hưu? Ai lo y tế? Ngân sách có gánh nổi không? Cách đặt vấn đề như vậy không sai nhưng vô tình biến người cao tuổi thành "gánh nặng".
Nhìn từ góc khác, 21 triệu người cao tuổi là 21 triệu khách hàng tiềm năng. Họ cần dịch vụ y tế, cần dinh dưỡng phù hợp, cần không gian vận động, cần kết nối xã hội, cần sản phẩm tài chính, cần nhà ở thích ứng, cần du lịch nghỉ dưỡng. Toàn bộ hệ sinh thái phục vụ nhóm dân số này, thế giới gọi là "nền kinh tế bạc" (Silver Economy), đã đạt quy mô hàng nghìn tỷ USD và đang là động lực tăng trưởng quan trọng tại châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc.
Tại Việt Nam, với dân số hơn 100 triệu người, tầng lớp trung lưu tăng nhanh, nhu cầu dịch vụ chất lượng cho tuổi già chắc chắn sẽ bùng nổ trong 10 đến 15 năm tới. Một nghiên cứu của VCCI và UNFPA từ năm 2021 cho thấy nhu cầu của người cao tuổi không chỉ là y tế, mà còn là vận động thể thao, kết bạn, dinh dưỡng phù hợp, được tiếp tục làm việc, và được hỗ trợ chăm sóc bản thân. Thiếu hụt lớn nhất nằm ở những dịch vụ tưởng chừng đơn giản nhất: cứ 10 người có nhu cầu tâm tình, kết bạn thì chỉ hai người tìm thấy dịch vụ phù hợp.
Nhu cầu không thiếu. Nhưng chính sách chưa tạo đủ điều kiện để cung gặp cầu. Nền kinh tế bạc đang bị kìm hãm bởi những nút thắt chính sách.
Bảo hiểm xã hội và lỗ hổng bao phủ: Hiện nay, chỉ 37-40% người cao tuổi được hưởng lương hưu hoặc trợ cấp xã hội, trong đó chỉ 12-13% có lương hưu đóng góp. Nghĩa hơn 10 triệu người già không có nguồn thu nhập ổn định. Hơn một nửa lực lượng lao động hiện nay làm việc trong khu vực phi chính thức, không tham gia BHXH. Nếu không có cơ chế hỗ trợ kịp thời, nhóm này khi về già sẽ trở thành áp lực rất lớn lên hệ thống an sinh.
Bảo hiểm y tế và chi phí y tế với mức chi trả hạn chế: Dù tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đã đạt trên 94%, mức chi trả chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu đặc thù của người già. Các dịch vụ thiết yếu như chăm sóc phục hồi chức năng, chăm sóc tại nhà, chăm sóc giảm nhẹ chưa được chi trả. Hệ quả là chi tiêu trực tiếp từ tiền túi chiếm 41-42% tổng chi phí y tế, đẩy nhiều hộ gia đình vào cảnh kiệt quệ.
Quỹ hưu trí bổ sung và ưu đãi thuế chưa đủ hấp dẫn. Đây là nút thắt ít được bàn luận công khai nhưng lại có ý nghĩa rất lớn. Quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung, nếu được thiết kế tốt, vừa là "lá chắn" an sinh giúp người lao động tích lũy thêm cho tuổi già, vừa là "bể chứa" nguồn vốn trung dài hạn cho nền kinh tế, giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.
Nhưng thực tế thì sao? Luật BHXH 2024 chỉ cho phép người lao động tham gia quỹ hưu trí bổ sung thông qua doanh nghiệp, không cho phép tham gia dưới tư cách cá nhân. Một người đã nghỉ hưu, một người tự kinh doanh, một lao động tự do đã đóng đầy đủ BHXH và thuế, chưa thể chủ động tích lũy cho tuổi già qua kênh này. Quy định vô tình thu hẹp đối tượng tham gia và không lan tỏa lợi ích ưu đãi thuế cho những thành phần đã thực hiện đầy đủ trách nhiệm với xã hội.
Mức ưu đãi thuế thu nhập cá nhân khi tham gia quỹ chỉ tối đa 1 triệu đồng mỗi tháng, con số được ban hành từ năm 2013 và không thay đổi suốt 13 năm qua, bất chấp lạm phát và thu nhập đã tăng đáng kể. Trong khi đó, khi doanh nghiệp đóng góp quỹ hưu trí bổ sung, người lao động lại phải chịu thuế thu nhập cá nhân ngay tại thời điểm đóng góp. Khoản đóng góp này thường kèm điều kiện phải làm việc đủ N năm mới được hưởng. Nếu nghỉ việc sớm, người lao động mất quyền hưởng và phải tự đi xin hoàn thuế - một quy trình không hề đơn giản. Kết quả là đa số người lao động không thấy được khuyến khích tham gia.
Về phía đầu tư, quy định hiện hành bắt buộc quỹ hưu trí đầu tư tối thiểu 50% vào trái phiếu chính phủ (dự thảo mới giảm xuống 30-40%). Nghe thì an toàn, nhưng với mức lãi suất trái phiếu chính phủ khoảng 3% và lạm phát ổn định ở mức 3,5%, tài sản tích lũy của người tham gia thực chất bị "ăn mòn" theo thời gian. Giới trẻ và trung niên nhìn vào đó, so với vàng, chứng khoán hay thậm chí tiền mã hóa, không thấy lý do để tham gia. Theo thông lệ quốc tế, quỹ hưu trí thường không bị bắt buộc đầu tư vào bất kỳ loại hình tài sản cụ thể nào, mà được linh hoạt theo mục tiêu và độ tuổi người tham gia.
Cuối cùng là nút thắt thiếu tiêu chuẩn và thiếu ưu đãi cho doanh nghiệp. Hiện chưa có bộ tiêu chuẩn quốc gia thống nhất cho dịch vụ chăm sóc người cao tuổi. Không có tiêu chuẩn thì không có cơ sở cấp phép, giám sát, xếp hạng chất lượng. Thị trường phát triển tự phát, doanh nghiệp nghiêm túc ngại đầu tư vì thiếu "sân chơi" minh bạch. Đồng thời, chưa có chính sách đất đai, thuế, tín dụng ưu đãi riêng cho lĩnh vực này. Viện dưỡng lão, trung tâm chăm sóc người cao tuổi bị xếp chung với cơ sở xã hội như trường học, nhà trẻ, không có chế độ đặc thù nào.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy không quốc gia nào giải quyết thành công bài toán già hóa dân số nếu chỉ dựa vào một nguồn lực duy nhất, dù đó là ngân sách nhà nước, thị trường hay gia đình. Nhật Bản triển khai bảo hiểm chăm sóc dài hạn từ năm 2000, Đức từ năm 1995, Hàn Quốc từ năm 2008. Các nước Bắc Âu kết hợp ngân sách công với cơ chế đấu thầu để tư nhân cung cấp dịch vụ công theo tiêu chuẩn nhà nước quy định. Singapore xây dựng quỹ tiết kiệm hưu trí bắt buộc từ sớm, kết hợp khuyến khích sở hữu nhà ở. Điểm chung là một hệ thống đa tầng, kết hợp vai trò nhà nước, doanh nghiệp và gia đình cộng đồng.
Với Việt Nam, tôi cho rằng cần tập trung vào một số giải pháp cụ thể.
Về tầm nhìn chiến lược, cần ban hành Chương trình quốc gia về thích ứng già hóa dân số, trong đó kinh tế bạc được xác định là một ngành kinh tế mới.
Về quỹ hưu trí bổ sung, cần mở rộng đối tượng, cho phép mọi cá nhân đã tham gia BHXH bắt buộc được tham gia dưới tư cách cá nhân, không chỉ thông qua doanh nghiệp. Cần nâng mức ưu đãi thuế thu nhập cá nhân và gắn mức trần với chỉ số lương cơ bản để theo kịp lạm phát. Khoản đóng góp của doanh nghiệp cho người lao động cần được miễn thuế thu nhập cá nhân tại thời điểm đóng, tương tự BHXH bắt buộc, bởi bản chất đây là phúc lợi dài hạn chứ không phải thu nhập tiêu dùng hiện tại. Và cần mở rộng không gian đầu tư, cho phép thiết kế quỹ hưu trí theo độ tuổi: người trẻ được đầu tư vào danh mục có lợi nhuận cao hơn, người gần nghỉ hưu chuyển dần sang tài sản an toàn. Có như vậy, quỹ hưu trí bổ sung mới thực sự hấp dẫn và phát huy được vai trò kép: vừa là công cụ an sinh, vừa là kênh huy động vốn dài hạn cho nền kinh tế.
Về dịch vụ chăm sóc, việc sớm ban hành bộ tiêu chuẩn quốc gia sẽ tạo nền tảng cho cấp phép, giám sát và xếp hạng chất lượng. Một quỹ chăm sóc dài hạn với cơ chế đóng góp ba bên sẽ giúp bảo đảm tính bền vững tài chính. Hợp tác công - tư trong lĩnh vực dưỡng lão, y tế cộng đồng và bất động sản thân thiện với người cao tuổi cũng cần được khuyến khích, đi kèm các ưu đãi về thuế, tín dụng và đất đai. Đồng thời, đào tạo nghề chăm sóc người cao tuổi nên được đưa vào hệ thống giáo dục chính quy, bởi thiếu nhân lực chuyên môn vẫn là nút thắt lớn nhất của toàn bộ hệ thống.
Già hóa dân số là xu thế không thể đảo ngược. Nhưng cách chúng ta nhìn nhận nó, bằng tư duy "gánh nặng" hay tư duy "nguồn lực", sẽ quyết định rất nhiều. Nền kinh tế bạc không phải giấc mơ xa vời. Nó đang ở ngay trước cửa, với 14 đến 16 triệu người cao tuổi hôm nay và 21 triệu người trong hơn một thập kỷ tới.
Câu hỏi không phải là có nên mở cánh cửa đó hay không, mà là chúng ta có kịp mở hay không.
Đậu Anh Tuấn